Quốc kỳ Guyana

Nguồn:
Người gửi: Văn Nhân
Ngày gửi: 07h:09' 25-09-2009
Dung lượng: 1.4 KB
Số lượt tải: 1
Mô tả:
Ở thời những người Châu Âu đầu tiên tới vùng này khoảng năm 1500, Guyana là nơi sinh sống của các bộ tộc Arawak và Carib Amerindian. Dù Guyana đã được Christopher Columbus nhìn thấy lần đầu trong chuyến đi thứ ba của ông (năm 1498), đây vẫn chưa phải là nơi định cư của người Châu Âu cho tới khi người Hà Lan tới năm 1616, họ đã lập ra ba thuộc địa; Essequibo (1616), Berbice (1627) và Demerara (1752). Anh Quốc đã nắm quyền kiểm soát vào cuối thế kỷ 18 và người Hà Lan chính thức rời khỏi vùng này năm 1814. Ba vùng trở thành một thuộc địa Anh duy nhất được gọi là Guiana thuộc Anh năm 1831.
Những người nô lệ bỏ trốn đã lập ra các cộng đồng Maroon. Sự xóa bỏ chế độ nô lệ năm 1834 dẫn tới sự thành lập các khu định cư da đen ở các vùng đô thị và sự du nhập lao động hợp đồng từ Madeira (Bồ Đào Nha) (bắt đầu từ năm 1834), Đức (lần đầu năm 1835), Ireland (1836), Scotland (1837), Malta (1839), Trung Quốc và Ấn Độ (bắt đầu năm 1838) để làm việc trên những cánh đồng mía. Năm 1889 Venezuela tuyên bố chủ quyền vùng đất lên tới tận Essequibo. Mười năm sau một tòa án quốc tế phán quyết vùng đất thuộc British Guyana; tuy nhiên tranh cãi vẫn còn tiếp diễn.[1]
Trong Thế chiến thứ hai, Hoa Kỳ dàn xếp để các lực lượng không quân của họ sử dụng các sân bay Anh Quốc tại Nam Mỹ, gồm cả những sân bay tại British Guiana[cần dẫn nguồn].
Guyana độc lập khỏi Anh Quốc năm 1966 và trở thành một nền cộng hoà năm 1970, vẫn là một thành viên của Khối thịnh vượng chung. CIA và United States State Department cùng chính phủ Anh đóng vai trò rất quan trọng trong việc gây ảnh hưởng tới nhân vật chính trị kiểm soát Guyana ở thời gian này. [citation needed]
[sửa] Địa lý
Guyana có thể chia thành bốn vùng tự nhiên: một đồng bằng hẹp và mầu mỡ nhiều đầm lầy dọc Đại Tây Dương {Đồng bằng thấp ven biển} nơi sinh sống của phần lớn dân cư, tiếp đó là một dải cát trắng ở sâu hơn trong lục địa {Đồi cát và Vùng Đất sét}, nơi chứa đựng hầu hết các tài nguyên khoáng sản Guyana, rừng nhiệt đới dày đặc {Vùng cao nguyên nhiều rừng} dọc giữa đất nước, savannah cỏ phẳng ở phía nam và cuối cùng là những cao nguyên lớn hơn bên trong {Savannah Trong} chứa đựng hầu hết những dãy núi nâng cao dần lên về phía biên giới Brasil. Các dãy núi chính của Guyana đều tập trung tại đây, gồm Núi Ayanganna (2.042 m (6.699 ft)) và trên Núi Roraima (2.835 m (9.301 ft) – núi cao nhất Guyana) trên điểm ngã ba biên giới Brasil-Guyana-Venezuela, một phần của dãy Pakaraima. Roraima được cho từng là cảm hứng của truyện Thế giới đã mất. Có nhiều vách đứng và thác nước, gồm cả Thác Kaieteur nổi tiếng. Giữa Sông Rupununi và biên giới với Brasil là savannah Rupununi, phía nam của nó là Núi Kanuku.
Nước này có nhiều con sông, ba sông chính là (từ tây sang đông) Essequibo, Demerara, và Berbice. Con sông Corentyne chạy dọc biên giới với Suriname. Tại cửa sông Essequibo có nhiều đảo nhỏ. Shell Beach dài 90-dặm (145-km) dọc các bờ biển bắc-tây. Guyana là vùng sinh sản chính của rùa biển (chủ yếu là rùa biển Leatherback) và các dạng sinh vật hoang dã khác.
Khí hậu địa phương là nhiệt đới và nói chung nóng và ẩm, dù ôn hòa nhờ gió mậu dịch đông bắc dọc bờ biển. Có hai mùa mưa, mùa mưa thứ nhất từ tháng 5 tới giữa tháng 8, và mùa mưa thứ hai từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 1.
[sửa] Nhân khẩu
| Dân tộc | Phần trăm |
|---|---|
| Đông Ấn | 43.5 |
| Châu Phi/Creole | 30.2 |
| Lai | 16.7 |
| Amerindian | 9.2 |
| Bồ Đào Nha | 0.20 |
| Trung Quốc | 0.19 |
| Trắng | 0.06 |
Nhóm dân tộc lớn nhất là Đông Ấn gồm 43.5 phần trăm dân số năm 2002. Tiếp sau là những người dòng dõi da đen Châu Phi (30.2 phần trăm). Đứng thứ ba là những người lai chủng tộc (16.7 phần trăm), người Amerindian đứng thứ tư với 9.2 phần trăm. Những nhóm chủng tộc nhỏ nhất là da trắng (0.06 phần trăm hay 476 người), người Bồ Đào Nha (0.20 phần trăm hay 1496 người) và Trung Quốc (0.19 phần trăm hay 1395 người). Một nhóm nhỏ (0.01 phần trăm hay 112 người) không xác định nguồn gốc chủng tộc của họ.
Phân bố phần trăm dân cư tương tự như tại những cuộc điều tra dân số năm 1980 và 1991, nhưng số lượng hai nhóm sắc tộc chính đã giảm sút. Đông Ấn từng chiếm 51.9 dân số năm 1980, nhưng tới năm 1991 đã giảm xuống còn 48.6 phần trăm và sau đó là 43.5 phần trăm trong cuộc điều tra dân số năm 2002. Những người hậu duệ Châu Phi đã tăng nhẹ từ 30.8 tới 32.3 phần trăm trong giai đoạn đầu tiên (1980 - 1991) trước khi giảm còn 30.2 phần trăm tại cuộc điều tra dân số năm 2002. Với mức tăng dân số nhẹ, sự sụt giảm số lượng phần trăm tại hai nhóm lớn nhất dẫn tới sự tăng nhẹ tại nhóm ‘Lai’ và Amerindian. Số người Amerindian đã tăng 22.097 trong giai đoạn 1991 - 2002. Con số này chiếm 47.3 phần trăm tăng trưởng hay mức tăng trưởng hàng năm là 3.5 phần trăm. Tương tự, người ‘Lai’ tăng thêm 37.788 người, chiếm 43.0 phần trăm tăng trưởng hay mức tăng hàng năm là 3.2 phần trăm tính từ cuộc điều tra dân số năm 1991. Người Da trắng và Trung Quốc đã giảm sút trong giai đoạn 1980 và 1991 và tăng trở lại ở cuộc điều tra dân số năm 2002 ở mức 54.4 phần trăm (168 người) và 8.1 phần trăm (105 người). Tuy nhiên, vì số lượng khá nhỏ, con số tăng này không gây ảnh hưởng gì trên tổng thể. Nhóm Bồ Đào Nha đã giảm liên tục trong các thập kỷ qua.
[sửa] Ngôn ngữ
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức tại Guyana. Ngoài ra, các ngôn ngữ Amerindian (xem Các ngôn ngữ Cariban) được một nhóm thiểu số nhỏ sử dụng và ngôn ngữ Creole Guyan (một thổ ngữ dựa trên tiếng Anh với cú pháp Phi và Ấn) cũng được sử dụng rộng rãi. Tuy tiếng Anh là ngôn ngữ chính, nó được dùng với trọng âm đứt quãng. Ngữ pháp tiêu chuẩn cũng không được tôn trọng[cần dẫn nguồn] và nhiều từ bị thay thế.
[sửa] Tôn giáo và các hội láng giềng
Guyana được chia thành 10 vùng.
- Barima-Waini
- Pomeroon-Supenaam
- Essequibo Islands-West Demerara
- Demerara-Mahaica
- Mahaica-Berbice
- East Berbice-Corentyne
- Cuyuni-Mazaruni
- Potaro-Siparuni
- Upper Takutu-Upper Essequibo
- Upper Demerara-Berbice
Các vùng được chia thành 27 Hội đồng láng giềng.
[sửa] Chính trị
Chính trị Guyana theo khuôn khổ cộng hoà đại diện dân chủ bán tổng thống, theo đó Tổng thống Guyana là nguyên thủ quốc gia, và một hệ thống chính trị đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp do cả chính phủ và Quốc hội Guyana đảm nhiệm. Tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp. Cuộc bầu cử quốc gia năm 2006 là cuộc bầu cử hòa bình đầu tiên trong thời gian gần đây. Cuộc bầu cử này là tự do và công bằng và là sự khởi đầu mới từ những hỗn loạn trong những cuộc bầu cử trước.
Trong lịch sử, chính trị luôn là một nguồn gây căng thẳng trong nước và những cuộc bạo loạn thường xảy ra trong những kỳ bầu cử. Trong thập niên 1980, chính trường do Đại hội Quốc gia Nhân dân thống trị, họ giữ quyền lực qua các hành động giả mạo kết quả bầu cử. Năm 1992, cựu Tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã giám sát cuộc bầu cử "tự do và công bằng" đầu tiên tại nước này và Đảng Tiến bộ Nhân dân đã nắm quyền điều hành đất nước từ đó. Hai đảng chủ yếu được tổ chức theo dòng dõi sắc tộc và vì thế là nguyên nhân gây ra những xung đột về các vấn đề trong chính phủ.
Gần đây có nhiều vụ việc tội phạm liên quan tới những tù nhân bỏ trốn và hành động tham nhũng trong các quan chức chính phủ. Tầng lớp trung lưu đã trở thành nạn nhân của những vụ cướp bóc, bắt cóc, cướp xe hơi, và đột nhập nhà cửa không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Tỷ lệ các vụ giết người tại Guyana khá cao đối với một nước ở kích cỡ đó, lớn gấp ba lần tỷ lệ này tại Hoa Kỳ [1].
[sửa] Kinh tế
Guyana là một trong những nước nghèo nhất tại Tây Bán Cầu[2] Các vấn đề kinh niên của họ gồm thiếu lao động có tay nghề và thiếu hụt cơ sở hạ tầng. Tới gần đây chính phủ vẫn lừa bịp về một khoản nợ nước ngoài khá lớn để từ chối mở rộng chi tiêu ngân sách cho đầu tư công cộng. Giá các sản phẩm khai thác mỏ và nông nghiệp thấp cộng với các vấn đề trong ngành công nghiệp bôxít và đường đã đe dọa khoản thuế nhỏ nhoi của chính phủ cũng như khiến các viễn cảnh phát triển tương lai trở nên mờ mịt hơn. Tuy nhiên, kinh tế Guyana đã hồi phục và tăng trưởng nhẹ từ năm 1999, dựa trên việc mở rộng các lĩnh vực nông nghiệp và khai thác mỏ, và một môi trường thuận lợi hơn cho kinh doanh, tỷ giá trao đổi sát thực tế hơn, lạm phát ở mức khá thấp, và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế.
Các hoạt động kinh tế chính của Guyana là nông nghiệp (sản xuất gạo và đường Demerara), khai thác mỏ bôxít, vàng, gỗ, tôm và khoáng sản. Công nghiệp mía đường, chiếm 28% toàn bộ nguồn thu xuất khẩu, chủ yếu do Guysuco điều hành và sử dụng nhiều lao động hơn bất kỳ ngành công nghiệp nào khác. Nhiều ngành công nghiệp nhận được đầu tư nước ngoài khá lớn. Ví dụ, công nghiệp mỏ được công ty Mỹ là Reynolds Metals và Alcan của Canada đầu tư khá nhiều, còn Barama Company của Hàn Quốc/Malaysia chiếm thị phần lớn trong công nghiệp khai thác gỗ.
Sản xuất balatá (mủ cao su tự nhiên) từng là một lĩnh vực quan trọng tại Guyana. Đa số cây balata tại Guyana được trồng ở những đồi thấp tại Núi Kanuku ở Rupununi. Trước kia loại cây này cũng được trồng tại Quận Tây Bắc, nhưng đa số cây ở đây đã bị tàn phá bởi nạn lấy mủ bất hợp pháp khiến người dân phải lựa chọn cách chặt cây thay vì khai thác chúng. Người địa phương thường dùng Balata làm bóng chơi môn cricket kiểu địa phương, trám tạm vào lỗ hổng răng, và nặn những bức tượng nhỏ hay những đồ vật trang trí khác (đặc biệt với người Macushi tại vùng núi Kanuku).
Các tổ chức lớn trong lĩnh vực tư nhân gồm Ủy ban Khu vực Tư nhân (PSC)[2] và Phòng Thương mại và Công nghiệp Georgetown (GCCI);[3] xem một danh sách công ty tại Guyana.
Ngoài ra, chính phủ đã đưa ra sáng kiến kiểm tra lại toàn bộ các sắc thuế bắt đầu từ năm 2007. Thuế giá trị gia tăng (VAT) được đưa vào thực hiện thay thế sáu loại thuế khác. Trước khi VAT được áp dụng, thường việc trốn thuế mua bán khá dễ dàng và nhiều công ty đã thực hiện hành vi này. Nhiều công ty phản đối việc áp dụng thuế VAT vì họ phải thực hiện thêm nhiều hoạt động sổ sách, tuy nhiên chính phủ vẫn kiên quyết thực hiện. Bằng cách thay thế nhiều loại thuế bằng một thuế suất thấp, chính phủ cũng sẽ dễ dàng hơn trong hoạt động kiểm toán, ngăn chặn tham ô. Tuy việc đưa thuế VAT vào áp dụng từng gặp phải một số khó khăn, nó sẽ giúp cải thiện cuộc sống hàng ngày nhờ số tiền chính phủ thu được và đầu tư cho lĩnh vực công cộng.
Tổng thống Bharrat Jagdeo đã coi việc giảm gánh nặng nợ nần là một ưu tiên hàng đầu với chính phủ của mình. Ở một số mức độ, ông đã khá thành công, với gần 800 triệu dollar xoá nợ từ Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển liên Mỹ, cộng với hàng triệu dollar khác do các nước công nghiệp giảm trừ.
[sửa] Tóm tắt
|
|
|
[sửa] Viễn thông
- Điện thoại
- 110.100 đường trục (ITU, 2005)
281.400 máy di động (Informa Telecoms, 2005) - Các đài phát thanh
- 1 (sở hữu nhà nước, phát trên kênh AM, FM, và sóng ngắn)[4]
- Các đài truyền hình
- 14 (năm 2005; một thuộc sở hữu chính phủ; mười hai đài tiếp sóng các chương trình Châu Mỹ qua các dịch vụ vệ tinh)
- Máy chủ
- 1.046 (ITU, 2006)
- Người sử dụng Internet
- 160.000 (ITU, 2005)
[sửa] Vận tải
- Đường sắt
- Tổng cộng 187 km (116 dặm), tất cả đều dùng vận chuyển quặng (2001 ước tính)
- Đường cao tốc
- Tổng cộng 7.970 km (4.952 dặm), trong số đó 590 km (367 dặm) trải nhựa và 7.380 km (4.586 dặm) không trải nhựa (1999 ước tính)
- Đường thuỷ
- 1.077 km (669 dặm)[5]
- Cảng biển và cảng sông
- Georgetown, Port Kaituma
- Sân bay
- 1 sân bay quốc tế (Sân bay Quốc tế Cheddi Jagan, Timehri); 1 sân bay quốc tế vùng (Sân bay Ogle); và khoảng 90 đường băng, 9 trong số đó có đường băng nhựa (2006 ước tính).
[sửa] Văn hoá
| Ngày | Tên |
|---|---|
| 1 tháng 1 | Năm mới |
| 23 tháng 2 | Ngày Cộng hòa Mashramani |
| tùy thuộc | Phagwah |
| tùy thuộc | Eid-ul-Fitr |
| tùy thuộc | Thứ sáu tốt lành |
| tùy thuộc | Thứ hai Phục sinh |
| 1 tháng 5 | Ngày quốc tế lao động |
| 5 tháng 5 | Indian Arrival Day |
| 26 tháng 5 | Ngày độc lập |
| Thứ hai đầu tiên của tháng 7 | Ngày CARICOM |
| 1 tháng 8 | Ngày giải phóng |
| tùy thuộc | Diwali |
| 25 tháng 12 | Giáng sinh |
| 26 tháng 12 hay 27 | Ngày tặng quà |
Guyana, cùng với Suriname và Brasil, là một trong ba nước phi Hispanic (không thuộc Tây Ban Nha) duy nhất tại Nam Mỹ. Văn hóa Guyana rất tương đồng với văn hóa các nước nói tiếng Anh vùng Caribbea, tới mức Guyana thuộc và đã được chấp nhận là một quốc gia Caribbea và là thành viên sáng lập khối kinh tế Caricom (Cộng đồng Caribbea) và cũng là nơi đóng trụ sở của Khối, Ban thư ký CARICOM. Vị trí địa lý, dân cư thưa thớt tại những vùng rừng nhiệt đới, và số lượng người Amerindian trong dân số đông là những đặc điểm khác biệt của nó với các quốc gia Caribbea nói tiếng Anh khác. Những nét văn hóa Đông Ấn (Ấn Á) và Tây Ấn (da đen) khiến văn hóa nước này tương đồng với Trinidad và khác biệt với toàn bộ các vùng khác ở Châu Mỹ. Guyana có nhiều đặc điểm tương tự với các quần đảo ở Tây Ấn, như thực phẩm, các sự kiện lễ hội, âm nhạc, thể thao, vân vân. Guyana tham dự môn cricket thế giới với tư cách một phần của Đội cricket Tây Ấn, và đội Guyana chơi đua tranh giải criket với các quốc gia Caribbea khác. Ngoài tư cách thành viên CARICOM, Guyana cũng là một thành viên của CONCACAF, liên đoàn bóng đá thế giới khu vực Bắc và Trung Mỹ và Caribbea. Một khía cạnh khác của văn hóa Guyana là sự giàu có về âm nhạc dân gian Jumbee.
[sửa] Tôn giáo
Các tôn giáo chính tại Guyana gồm Thiên chúa giáo, chiếm 57% dân số, Hindu giáo 37%, và Hồi giáo 9%. Đa số tín đồ Thiên chúa giáo Guyana theo Tin lành và gồm nhiều chủng tộc. Hindu giáo chiếm đa số trong các cộng đồng Đông/Tây Ấn, những người tới đây từ đầu những năm 1800, trong khi Hồi giáo khác biệt giữa người Phi-Guyana và Indian-Guyana.
- Sự kiện
- Mashramani (Mash); Phagwah (Holi); Deepavali (Diwali)
[sửa] Giáo dục
Hệ thống giáo dục Guyana, từng một thời được coi là một trong những hệ thống tốt nhất tại Caribbean, đã trở nên tàn tạ trong những năm 1980 vì nạn di cư của những người có học thức cao và thiếu nguồn vốn cần thiết. Dù hệ thống giáo dục đã được hồi phục ở một số mức độ trong thập niên 1990, nó vẫn chưa tạo ra được đủ sinh viên có chất lượng giáo dục đáp ứng được yêu cầu của Guyana nhằm hiện đại hóa nguồn nhân lực của mình. Nước này thiếu chuyên gia trong nhiều lĩnh vực và hoạt động thiết yếu của nền ki









